Filed under: All - Tất Cả, Âm Nhạc & Video Clip, Blog & Web, Công Nghệ & Khoa Học, Cảm Nhận & Suy Ngẩm, Holidays & Happy, Mobile, Sức Khoẻ, Tự làm, Thủ Thuật & Mẹo Vặt, Tin Học, Xã Hội & Giáo Dục | Leave a Comment »
Chat
Trang trí phòng HomeTheater đẹp mà đơn giản – Floating Wall
Tham khảo trên avforums em thấy một số bộ hometheater có cách trình bày phần tường treo tivi đơn giản mà đẹp gọi là “floating wall”.
Đại khái hiểu “floating” là dây dợ được dấu ra phía sau, tạo hiệu ứng là tivi được treo “lơ lửng” trên mặt tường.
Bỏ ra 1 ngày cuối tuần thực hiện, em thấy kết quả bộ hometheater còi nhà em trông “khá” hơn hẳn. Mà thích là được tự mình làm, nên em post lên để mọi người cùng góp ý.
1 – BẮT ĐẦU – CƯA + CẮT GỌT THEO THIẾT KẾ

Nguyên liệu: 6m gỗ bản 4cmX5cm làm khung + Gỗ dán làm mặt

Nhờ chú em cưa hộ – mình đứng giám sát kỹ thuật + chụp ảnh 

Phù – đã xong phần mặt gỗ + khung 
2 – KHOAN BẮT KHUNG + MẶT GỖ

Đo + vẽ trên tường – khoan cố định các khung
3 – DÁN DECAL + HOÀN THIỆN 
Dây cáp nguồn + HDMI đã giấu ra phía sau mặt gỗ – Tivi giờ hoàn toàn được treo lơ lửng trên mặt phẳng, không có chân hay dây cáp
4 – LẮP ĐÈN LED NỀN

Test thử đèn led nền -> hơi chói mắt + sáng quá mức làm lộ mặt tường không được phẳng mịn
Xử lý bằng một lớp giấy mờ làm giảm bớt ánh sáng.
Ngoài ra, có thể xếp giấy xen kẽ hoặc đục lỗ để tạo hiệu ứng tia sáng hắt ra trông rất lạ
Ánh sáng nhẹ nhàng hơn, giúp xem phim lâu trong phòng tối không mỏi mắt
4- HOÀN THÀNH
Xem HD với ánh sáng dịu nhẹ nhàng
Do chụp bằng SSOminaII nên hình ảnh không tốt.
Khi nào nâng cấp tivi mới xong, em sẽ chụp lại bằng máy ảnh để hình rõ hơn.
TỔNG KẾT
Thời gian thực hiện: từ 4-6 tiếng.
Chi phí:
- Bề mặt – 1 tấm gỗ dán bản 2,4mX1,2m=5mm ~ 70.000 đ
- Decal vân gỗ hoặc mầu dán bề mặt – 2m ~ 80.000 đ
- Khung – 1 thanh gỗ bản 4cmX5cm – dài khoảng 6 m ~ 100.000 đ
- Đèn led dây – 4m ~ 70.000 đ
- Xích lô vận chuyển ~ 30.000 đ
- Đinh ốc sâu vít + trà đá thuốc lá + blap blap … ~ 30.000 đ
- Đồ nghề: khoan tường + gỗ, cưa tay, tô vít…
- Total ~ 350.000 – 400.00đ
Ưu điểm
- Dễ làm – anh em DIY sẽ thích tự mình trang hoàng bộ HT
- Dễ dàng thay đổi mầu sắc, hoạ tiết nền bằng giấy dán tường, decal…
- Chi phí thấp – hiệu quả thấy rõ: bộ HT trông pro hơn, sang trọng hơn
- Giải quyết được bài toàn dây dợ lằng nhằng (em xin lỗi, nhưng hầu hết các bộ HT của anh em HDvietnam đều mắc phải)
- Khắc phục hiện tượng mỏi mắt xem lâu trong phòng tối (em nghe thấy các diễn đàn nước ngoài nói vậy)
Nhược điểm
- Nếu để đèn quá sáng dễ bị lộ bề mặt tường xấu -> phản tác dụng
- Phần dán decal/giấy dán tường nếu làm không khéo sẽ lem nhem -> làm xấu thêm phòng khách -> phản tác dụng
Một số kinh nghiệm
- Nên chọn giấy hoạ tiết hoặc nền tối mầu và (nên) tương phản với mầu tường để nâng hiệu quả trang trí
- Có thể dùng giấy dán tường loại chuyên dụng: dầy dặn, chắc chắn, dễ thi công + hoa văn sang trọng hơn hẳn các loại decal rẻ tiền. Giá em tham khảo khoảng 150.000-300.000 đ / m2
- Đèn led dây có thể mua ở các cửa hàng bán đèn trang trí với giá 15-20.000/m. Điểm hạn chế là em chưa tìm mua được loại đèn có thể thay đổi được mầu như các bộ HT nước ngoài trang bị.
- Việc cưa / cắt có thể nhờ nơi bán gỗ làm giúp vì có cưa máy, còn không như em cưa tay thì…

- Có thể chọn phương án bả + sơn mầu (rất đẹp), nhưng khi đó phải mua loại gỗ dán chịu đuợc bả (có nước)
Anh em có thể tham khảo thêm box DIY của avforums:
http://www.avforums.com/forums/home-cinema-diy/
Một số hình ảnh các bộ FW tham khảo:
Tham khảo một trường hợp khác:
Cảm ơn bác. Tối qua tham khảo xong mấy cái DIY của khoai ta, khoai tây xong, sáng nay em đi mua đồ rồi về đóng luôn.
Cách đây mấy hôm là bộ 2.1 mua 35$ hồi còn SV cách đây chục năm, mua Z5500 thế vào nhưng vẫn chưa vứt đi 2 cọc màu bạc kia (cho thành 7.1 :-p ). Giao diện trông cộc lệch thế này
Ván gỗ và đồ nghề
Simili vân gỗ để dán (ông chủ hàng gỗ ấn vào tay)
Bỏ hết các thứ ra
Khung gỗ, em để hở ở dưới để dây thõng tự do. Vì có cái tủ che nên sẽ không nhìn thấy dây.
Khoét phần giữa với con cưa máy. Có con này thì việc cắt chỉ làm vài phút là xong.
Bắt đầu đóng khung lên tường. Gặp phải vấn đề là khoan 5cm khá khó vì chỉ vài giây là gỗ cháy đen. Em bèn ra hàng nhôm kính làm mấy gá chữ L về đóng lên mấy thanh gỗ, khoan tường và vít vào.
Đóng ván gỗ lên khung. Tiếc là em không đọc được bác chủ thớt phím cho cách bắt vít. Em cũng nghĩ tới chuyện có gì còn tháo ra nhưng nếu có dỡ thì sẽ làm luôn cái mới. Ông chủ hàng gỗ cũng bảo làm MDF nhưng lúc đó hết và bảo nó sẽ thấm nước khi nồm. Em mua phải tấm gỗ có chút gân lồi lên, nghĩ khi dán sẽ không thấy nhưng dưới ánh sáng là lộ lên hết. Chắc mấy bữa nữa sẽ bỏ ra để doa lại cho phẳng.
Gắn lên khung bằng đinh, trước đó có khoét mấy lỗ cho chuột Jerry chui ra chui vào.
Dán vân gỗ lên
Gắn loa
Dự định sửa và làm tiếp
- Loa sẽ vít chéo cho thêm điệu
- Sang phòng thằng bạn bốc nắm LED của nó để làm dây trang trí hắt ánh sáng như bác chủ thớt
Tổng kinh phí và thời gian- Mua gỗ, ván, xích lô chở, đinh, vít nở: 330K
- Thời gian làm: một buổi chiềuNếu làm lại
- Làm nền nhỏ lại, để lộ tường nhiều hơn sẽ đẹp khi có ánh sáng hắt ra. Tuy nhiên, sắp tới mua TV to hơn thì sẽ vừa.
- Làm bằng MDF cho phẳng hoặc doa lại cho hết cái sống bị lồi lên.
- Dán sẽ tốt hơn.
Trích: http://www.hdvietnam.com/diendan/63-nhung-dan-hd-mau-hdvietnam/36362-diy-floating-wall-cach-trang-tri-hometheater-dep-ma-don-gian.html
Filed under: All - Tất Cả, Âm Nhạc & Video Clip, Tự làm, Thủ Thuật & Mẹo Vặt | 1 Comment »
12 kiểu máy bay giấy thông dụng nhất thế giới
Máy bay giấy là kiểu máy bay đồ chơi dễ làm và tiện dụng nhất trong lịch sử nhân loại. Bạn có tin rằng những chiếc máy bay giấy đầu tiên đã ra đời ở Trung Quốc cách đây 2500 năm trước không? Nghệ thuật gấp giấy và chế tác đồ thủ công bằng giấy thực tế đã có mặt trong giai đoạn năm 460 – 390 trước Công nguyên rồi. Sau hàng nghìn năm, máy bay giấy đã chắp cánh ước mơ được bay cho loài người, dù là trong trí tưởng tượng.












Cracked
Filed under: All - Tất Cả, Tự làm, Thủ Thuật & Mẹo Vặt, Xã Hội & Giáo Dục | 1 Comment »
Tìm hiểu và lựa chọn Ampli cho dàn âm thanh
Nói đến ampli, công suất là một chỉ tiêu được nhiều người quan tâm, thậm chí còn được coi như quan trọng bậc nhất khi di mua ampli. Công suất lớn có phải là ampli hay? Và công suất khoảng bao nhiêu thì đủ cho nhu cầu sử dụng của bạn?


NIVS V3 – Electronic tube speakers
Công suất Amply: Thực và ảo
Cách quảng cáo công suất của một sản phẩm ampli trên thị trường hiện nay quả là khá tuỳ hứng. Một bộ dàn mini rất … mini, chỉ nặng khoảng mươi cân cả loa mà công suất ra được quảng cáo hàng ngàn oát (!?). Thực chất công suất trên các bộ dàn mini được gọi là công suất nhạc đỉnh đầu ra hay PMPO (Peak Music Power Output). Trên thực tế công suất PMPO thường lớn gấp 20 đến 50 lần cống suất thực của ampli đó. Có nghĩa là một bộ dàn mini quảng cáo công suất 2000W PMPO thì công suất thực tế của nó chỉ vào khoảng 40 – 100W mà thôi.
Công suất ra thực sự của một ampli – RMS (Root Mean Squared) đuợc tính bằng điện áp trên tải loa nhân với dòng điện qua tải loa đó, ví dụ như trên hai đầu của một chiếc loa 8 ohm có điện áp xoay chiều 8V và dòng qua tải là 1A thì công suất thật sẽ là 8W. Trong thực tế, để biết công suất thật ở một mức volume nào đó, ta có thể làm như sau: dùng một voltmetre xoay chiều đo trực tiếp điện áp trên hai đầu cọc loa khi máy đang chạy và áp dụng công thức
Công suất thật = U2/R
Trong đó: U là điện áp.
R là trở kháng loa.
Tất nhiên phép đo này có sai số lớn vì tín hiệu âm thanh luôn luôn thay đổi nên chỉ có tác dụng tham khảo. Muốn có giá trị chính xác, bạn cần có những thiết bị phức tạp hơn như: Máy tạo sóng âm tần, voltmetre điện tử, điện trở mẫu.
Bạn cũng nên nhớ rằng bất cứ một thiết bị tiêu thụ điện nào cũng có hiệu suất nhất định. Đối với ampli cũng vậy, tuỳ theo mạch công suất của ampli hoạt động theo chế độ nào: class A, B hay AB mà hiệu suất có thể thay đổi nhưng hiệu suất bao giờ cũng nhỏ hơn 100%. Nói cách khác, công suất của một amopli luôn luôn nhỏ hơn công suất tiêu thụ điện của nó. Vậy mà cũng có nững ampli quảng cáo công suất ra kiểu như 150W x 2 kênh trong khi công suất tiêu thụ toàn máy chỉ là 100W (công suất ra lớn gấp 3 làn công suất tiêu thụ), thật vô cùng phi lý!
Công suất lớn có phải là hay?
Công suất của một ampli là lượng, âm thanh của một ampli như thế nào lại là chất, hai khái niệm không thể đánh đồng. Tuy nhiên, không thể phụ nhận một điều rằng các hãng chế tạo ampli thường có nhiều dòng sản phẩm để đáp ứng túi tiền của nhiều đối tượng. Theo quan niệm thiết kế của nhiểu hãng, ampli công suất càng lớn, càng đắt tiền, thì càng được chú trọng vấn đề nâng cao chất lượng trong thiết kế, điều này là hoàn toàn đúng đối với ampli bán dẫn. Nói cách khác, cùng một mẻ đẻ ra, ampli bán dẫn nào có công suất lớn hơn thường là âm thanh hay hơn.
Với ampli đèn, vấn đề không hoàn toàn như thế. Chất lượng âm thanh của một ampli đèn phụ thuộc chủ yếu vào thiết kế mạch, chất lượng bóng đèn, biến áp và các phụ kiện. Một ampli 300B công suất ra 7W có thể âm thanh quyến rũ hơn nhiều so với một ampli khổng lồ hàng mấy trăm oát. Đừng bao giờ nghĩ ampli đèn công suất lớn thì tiếng luôn hay hơn công suất nhỏ. Khi chơi ampli đèn, nếu đã có loa độ nhạy cao, bạn hãy dành tiền đầu tư vào một ampli công suất nhỏ có âm thanh hay thì tốt hơn là mua một ampli công suất lớn không cần thiết.
Bạn có cần công suất lớn?
Công suất lớn đến bao nhiêu là vừa? Có phải công suất ampli càng lớn thì càng tốt hay không?
Phải chăng công suất là thông số kỹ thuật quan trọng nhất của một chiếc ampli? Những người nghe có kinh nghiệm cho biết: với một cặp loa 8 ohm, có độ nhạy trung bình, khoảng 90 dB và một phòng nghe rộng chùng 20 m2 thì công suất ampli cần thiết để nghe ở mức dễ chịu chỉ cần khoảng 20 – 25 W RMS là đủ và tối đa cũng chẵng vượt quá 40W (công suất thật), trừ khi bạn muốn chiếc ghế xô – pha bạn ngồi phải rung lên theo tiếng nhạc thì mới cần lớn hơn. Như vậy, thực chất chúng ta vẫn thường đầu tư vào những chiếc ampli có công suất quá dư so với yêu cầu sử dụng thông thường. Với phòng nghe có kích thước 25 – 30 m2, loa 90 dB và mức nghe to vừa phải, bạn sắm một chiếc ampli bán dẫn công suất thật 60 – 70 W là đạt yêu cầu.
Nhân tố quyết định việc lựa chọn công suất Amply:
Độ nhạy và trở kháng của loa:
Loa có độ nhạy càng cao thì chỉ cần ampli có công suất nhỏ.Ngược lại những loại loa được coi là “cứng đầu”, trở kháng thấp khoảng 4 Ohm, độ nhạy dưới 90 dB cần ampli có công suất lớn, dòng ra lớn (thường là loại nhiều sò cống suất lắp song song).
Kích cỡ và cách bố trí của phòng nghe:
Một căn phòng lớn hoặc chứa nhiều đồ đạc thường đòi hỏi công suất ampli lớn hơn căn phòng nhỏ và ít đồ đạc. Bởi âm thanh chúng ta nghe được là tổng hợp của các âm thanh đi trực tiếp từ loa và các âm phản xạ tường, trần, sàn nhà … Phòng nghe càng rộng, đồ đạc càng nhiều càng gây suy hao âm thanh phản xạ, tạo ra cảm giác nghe bé hơn phòng nhỏ.
Khoảng cách từ loa đến tai người nghe:
Nhân tố này không phụ thuộc vào kích thước của phòng nghe. nếu bạn ngồi xa loa, thậm trí trong một căn phòng nhỏ bạn vẫn phải cần công suất ampli lớn hơn.
Cường độ âm thanh bạn thường nghe:
Bạn thích loại nhạc nhẹ nhàng tình cảm hay bạn thích nghe nhac heavy rock? Nếu nhạc nhẹ bạn cần công suất nhỏ hơn, còn đối với nhạc rock, âm thanh phải đủ lớn mới làm cho các fan của dòng nhạc này “phê” được.
Hiệu suất của Amply:
Ampli class A:
Có hiệu suất vào khoảng 15% – 20%, tức là tiêu thụ 100W điện chỉ đưa ra công suất ra loa tối đa là 20W, 80% năng lượng còn lại bị tiêu tán dưới dạng nhiệt nên khi chạy rất nóng. Bù lại class A có độ méo cực nhỏ và âm thanh tự nhiên nhất.
Ampli class B:
Có hiệu suất vào khoảng 70 – 80%, tức là tiêu thụ 100W điện sẽ đưa ra công suất ra loa tối đa 80W, 20% năng lượng còn lại bị tiêu tán dưới dạng nhiệt nên khi chạy rất mát. Nhưng class B có độ méo lớn và âm thanh không hay nên ít được dùng trong các mạch audio cao cấp.
Ampli class AB:
Có hiệu suất vào khoảng 45 – 60%, tức là tiêu thụ 100W điện sẽ đưa ra công suất ra loa tối đa được 60W. Class AB là chế độ trung gian giữa class A và class B, công suất ra lớn hơn class A và độ máo nhỏ hơn class B. Class AB hiên được dùng trong hầu hết các ampli bán trên thị trường.
Vì vậy, khi mua ampli, muốn có công suất lớn hơn, bạn nên chọn ampli nào to, nặng, có công suất tiêu thụ điện lớn thì đó mới là cơ sở để có công suất ra loa thực sự.
(Theo Tạp chí Nghe Nhìn)
Filed under: All - Tất Cả, Âm Nhạc & Video Clip, Công Nghệ & Khoa Học, Tự làm, Thủ Thuật & Mẹo Vặt | Leave a Comment »
Tìm hiểu và lựa chọn Loa cho dàn âm thanh
Loa là dụng cụ điện thanh có tác dụng biến đổi năng lượng điện âm tần thành năng lượng âm thanh. Nó đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngành điện thanh.
Loa được dùng trong các máy tăng âm, máy thu thanh, máy ghi âm, máy thu hình, trong màng lới truyền thanh có dây và để trang âm trong nhà,ngoài trời.
I – ĐẶC TÍNH CHÍNH CỦA LOA:
1 – Công suất danh định của loa:
Công suất danh định của loa là công suất lớn nhất có thể cung cấp cho loa mà loa có thể chịu đợc, để các bộ phận của loa không bị biến dạng (nh cuộn dây bị nóng, màng loa bị méo) và đảm bảo hệ số méo không đờng thẳng không vợt quá mức quy định. Đơn vị tính công suất loa là vôn – am – pe (VA).
2 – Điện áp danh định của loa:
Điện áp danh định của loa là điện áp âm tần đa vào hai đầu loa để có công suất danh định, đơn vị tính điện áp là vôn.
3 – Trở kháng danh định của loa:
Trở kháng danh định của loa là trở kháng đo đợc khi đa vào loa một dòng điện âm tần hình sin có tần số quy định (thờng là 1000Hz hay 400Hz). Mức điện áp đa vào loa là 30% điện áp danh định. Trở kháng của loa thayđổi theo tần số.
4 – Thanh áp của loa:
Thanh áp của loa biểu thị độ nhậy của loa. Với cùng một công suất âm tần cung cấp cho loa, loa nào có thanh áp lớn hơn thì độ nhậy cao hơn.Độ nhậy của loa đợc đánh giá bằng thanh áp chuẩn của loa. Thanh áp chuẩn của loa đo ở điểm trên trục loa cách miệng loa 1m, khi đa vào loa công suất 0,1VA. Thanh áp tính theo đơn vị m bar.
Thanh áp chuẩn trung bình của loa là trung bình cộng của các thanh áp chuẩn riêng, đo ở các tần số 100,200,400,600,800,1000,1200,1500,2000,2500, 3000,3500,4500,5500,6500,8000, 10.000,12.000,15.000Hz.
5 – Đáp tuyến tần số của loa: Đáp tuyến tần số của loa biểu thị sự biến đổi của thanh áp chuẩn của loa khi tần số thay đổi .
Đáp tuyến tần số biểu thị tính trung thực của loa. Loa có chất lợng cao thì dải tần số công tác rộng và độ không đồng đều của đáp tuyến tần số càng ít. Màng loa càng to thì tiếng trầm càng rõ.
Loa điện từ có đáp tuyến tần số từ 200 đêns 2000Hz chênh lêchh 18dB; loa điện động cỡ nhỡ: từ 150 – 6000Hz, chênh lệch 18 dB; loa điện động cỡ lớn từ 100 – 8000Hz, chênh lệch 15dB; loa điện động chất lợng cao: từ 70 – 10:000Hz, chênh lệch 15dB; loa nén 25W: từ 200 – 4000Hz, chênh lệch 15dB.
6 – Độ méo không đường thẳng:
Nếu đa vào loa một dòng điện hình sin thì tiếng loa phải là một đơn âm. Nhng do kết cấu của loa kém, nên tiếng phát ra bị méo, vì tiếng phát là một âm phức tạp gồm âm đơn và một số âm hài. Tỷ số giữa biên độ những âm hài và biên độ âm cơ bản là độ méo không đờng thẳng. Độ méo này càng lớn thì tiếng loa càng méo, nghẹt, rè …
7 –Búp hướng của loa:
Loa cũng hưóng tính như microo.Các điểm chung quanh loa có cùng mức thanh áp, tạo thành đường đặc tính phương hướng của loa. Loa đơn treo lơ lửng có búp hướng hình cầu, âm thanh toả đều ra mọi phía. Loa cột và loa nén có búp hớng nhọn. Đối với loa đơn thì tiếng trầm có búp hướng giống hình cầu, tiếng thanh có búp hướng nhọn.
8 – Hiệu suất của loa:
Hiệu suất của loa là tỷ số giữa công suất âm thanh phát ra với công suất điện âm tần vào loa. Hiệu suất của loa phụ thuộc vào kết cầu và chất lợng các chi tiết của loa.

TÌM HIỂU MỘT SỐ LOẠI LOA
Nhìn vào bộ dàn âm thanh, dễ nhận thấy lao là thiết bị nổi bật nhưng không phải ai cũng biết rằng hoạt động của nó có ảnh hưởng quan trọng tới âm thanh của toàn hệ thống. Nhờ có bộ loa, tín hiệu điện được chuyển hoá thành sóng âm khiến tai ta có thể nghe được.
Tất cả các loại loa đều hoạt động dựa trên nguyên tắc căn bản là làm không khí chuyển động theo sự điều khiển của tín hiệu điện để tạo nên các sóng âm lan truyền trong không khí, tác động tới tai người nghe và giúp chúng ta thưởng thức được âm nhạc…
Có nhiều cách thức vận dụng nguyên tắc này, nhưng chúng tôi phân loại thành 5 nhóm chính, tương ứng với năm loại loa khác nhau, đó là loa điện động, lao màng tĩnh điện, loa mành nam châm, loa kèn và một loại loa khá mới mẻ, có cấu tạo đặc biệt đó là loa plasma.

Loa điện động
Loa điện động là loại phổ thông nhất trong tất cả các loại loa. Về cấu tạo, loa điện động bao gồm các bộ phận: xương loa, nam châm, cuộn dây động, màng loa, nhện và gân loa. Màng loa được thiết kế theo hình nón hoặc vòm, tạo nên một bề mặt chuyển động và sinh ra các luồng khí, từ đó, hình thành nên sóng âm. Bộ phận nâng đỡ và gắn kết màng loa cùng tất cả các chi tiết khác của loa là xương loa – thường làm từ sắt dập hoặc đúc bằng hợp kim nhôm hay gang.
Xung quanh màng loa là gân loa, có chức năng kết nối màng loa với xương loa, cho phép màng loa có thể chuyển động lên xuống. Gân loa có thể ví như là trục của bánh xe, vừa gắn bánh xe vào thân xe, vừa cho phép bánh quay tròn. Gân loa còn giúp màng loa quay trở lại vị trí đứng yên sau khi chuyển động.
Một “đồng nghiệp thân cận” của gân loa, cùng làm việc giữ màng loa ổn định vị trí sau khi chuyển điện động là con nhện. Nó được đặt sát dây của màng loa hình nón. Phần lớn con nhện đều được uốn lượn sóng như hình mái lợp.
Cuộn dây động đựơc quấn bằng đồng quanh một lõi hình trụ. Tín hiệu xoay chiều từ ampli đựơc đưa vào cuộn dây rồi đi qua các vòng dây, và sinh ra từ trường. Từ trường này tương tác với từ trường của nam châm loa, tạo ra các chuyển động lên xúông. Mức độ dao động của cuộn dây tỉ lệ với dòng điện chạy trong cuộn dây đó. Cuộn dây động có một đầu gắn chặt với nón loa, vì thế các dao động từ cuộn dây được truyền tới nón loa và làm rung động cả nón loa, từ đó phát ra âm thanh. Loa điện động dù là loa trầm, loa trung hay loa treble… đều hoạt điện động dựa trên nguyên tắc này để tạo ra âm thanh. Tất nhiên, tuỳ từng dải tần mà các loa có nhiều kiểu cấu tạo và kích cỡ khác nhau. Để có một thùng loa hoàn chỉnh, người ta có thể chỉ cần sử dụng một chiếc loa điện động duy nhất (chẳng hạn như trường hợp toàn dải – full range). Tuy nhiên, để có được phổ âm thanh thật đầy đủ và tránh hiện tượng các loa bị méo tiếng do hoạt động ở những dải tần không thích hợp, người ta cần phải phối hợp nhiều loa điện động khác nhau trong cùng một thùng loa, bởi vì không có chiếc loa con nào.
Tuy nhiên, để có được phổ âm thanh thật đầy đủ và tránh hiện tượng các loa bị méo tiếng do hoạt động hoạt động ở những dải tần không thích hợp, người ta cần phải phối hợp nhiều loa điện động khác nhau trong cùng một thùng loa, bởi vì không có chiếc loa con nào có thể một mình tải được tất cả tần số này. Và công việc phân chia các dải tần cho từng loa con lại thuộc về một bộ phận khác trong thùng loa, đó là bộ phân tần.

Bộ phân tần
Bộ phân tần là một mạch điên gồm các linh kiện như tụ, trở và cuộn dây… Các tần số cao khoảng từ 3.000Hz trở lên sẽ được bộ phận này chuyển đến loa treble, từ 3.000Hz trở xuống 200Hz sẽ tới loa trung, dước 200Hz tới loa trầm. Nói như thế, không có nghiã là bộ phận tần có thể tách tuyệt đối âm thanh ra 3 dải mà giưã các dải âm đều có sự giao thoa hay bao trùm lên nhau ở một khoảng tần số nào đó. Ví dụ, ta lấy điểm phân tần là tần số 3000Hz, trên điểm này là nơi loa treble xử lý các tần số cao, dưới điểm này là nơi loa trung và trầm tải tần số trung và số trung và trầm. Thực ra, loa treble sẽ tái hiện một số tín hiệu trên điểm phân tần. Tuy nhiên, âm thanh phát ra từ loa treble dưới điểm phân tần sẽ giảm theo độ dốc nhất định. Độ nghiêng càng lớn thì loa treble càng sản sinh ra tần số dưới điểm 3000 Hz và ngược laị. Cách thiết kế bộ phận tần phụ thuộc vào loại loa con đang sử dụng. Chất lượng cuả phân tần ảnh hưởng nhiều đến chất lượng âm thanh cuả cả thùng loa.
Phân loại loa con
Có ba loại loa con chính: treble, trung, bass. Loa treble tái hiện tần số cao, đường kình từ 1-2inch. Nhiều loa treble được thiết kế theo dạng dome (vòm) từ các chất liệu như titanium, nhôm, luạ, nhưạ… và chúng tôi đòi hỏi phải được thiết kế sao cho đủ nhẹ để có thể chuyển điện động rất nhanh hàng mấy ngàn dao động mỗi ngày. Loa trung xử lý tần số trung, thường từ 2000 hoặc 3000Hz xuống tới 200 hoặc 500Hz. Phần lớn loa trung đều có hình nón và dùng chất liệu màng: nhưạ, polypropylene hoặc giấy. Kích cỡ: 6-18 inch. Loa siêu trầm là loa đặc biệt tải tần số thấp nhất (khoảng 80Hz trở xuống) và có đường kính từ 10inch trở lên.
Nhược điểm cuả loa điện động
Loa điện động hoạt động rất linh hoạt, sử dụng tiện lợi, đặc biệt ở tần số thấp nhưng phiền toái ở chỗ nó cần phải có bộ phận phân tần và thùng phải lắp nhiều loa con. Sự cồng kềnh này không tránh khoỉ việc suy hao tín hiệu. Ngoài ra, âm thanh ở gần điểm phân tần thường bị suy giảm khiến cho màn âm thanh tổng thể không mượt mà như khi chúng được tái hiện mà không có bộ phận tần. Do những nhược điểm trên, để phát ra âm thanh tốt, loa điện động cần tới một điện năng khá lớn, một phần để chuyển động cuộn dây, phần lớn khác chỉ để làm nóng cuộn dây. Chúng cũng cần một nam châm to và một cấu trúc thùng nâng đỡ thật khoẻ, tương xứng với trọng lượng cuả các loa con. Tuy nhiên vì dễ chế tạo nên loại loa này rất phổ biến trong các thiết bị hi-fi.
Loa mành tĩnh điện
Với ưu điểm có màng loa nhẹ và không cần dùng bộ phận phân tần, loa tĩnh điện đã ra đời và khắc phục những tồn tại trên của loa điện động. thay vì sử dụng loa con, các thiết kế loa tĩnh điện chi dùng một chiếc mành treo trong từ trường tích điện. Chiếc mành này vừa rộng, vưà cao (khoảng 1m2), rất phẳng, mịn và cực kỳ nhẹ nên rất nhạy cảm với những dao điện động cuả tần số âm thanh. Chiếc mành này thay thế các loa con trong loa điên động, do vậy, loa tĩnh điện không cần đến bộ phân tần và tránh được các nhược điểm đi kèm bộ phân tần.
Tuy nhiên, loa tĩnh điện cũng có mặt trái là chiếc mành quá mỏng và rộng bản của nó không thể di chuyển được những khoảng cách lớn để có thể tái hiện các tần số thấp như loa điện động. Do vậy, nhiều loa mành phải dùng đến loa trầm điện động và một bộ phận phân tầng.
Các loa tĩnh điện cũng không thể tái hiện âm thanh sôi động, biến hoá như lao điện động nhưng nếu để thể hiện nét tinh tế của âm nhạc, đặc biệt ở tần số trung và cao lại là sở trường của loại loa này.
Một khó khăn khác mà loa tĩnh điện gặp phải, đó là mặt thiết kế. Chúng hoạt động được nhờ có một tấm mành mỏng đặt giữa hai tấm kim loại. Một điện áp một chiều rất cao hàng ngàn vôn được đưa vào các tấm kim loại, hình thành nên một điện trường giữa giữa không gian hai tấm đó. Trong khi đó, tấm mành nhân dòng điện xoay chiều từ ampli và liên tục thay đổi dấu điện cực. Sự thay đổi này kiến cho mành bị đẩy hoặc kéo khỏi các tấm kim loại và nó sinh ra sự dịch chuyển không khí, tạo nên âm thanh.Vấn đề là để có điện áp cao, loa phải kết nối với ổ điện điều này có thể gây phiền hà cho những thính giả sống trong các căn nhà không có sẵn các ổ điện ở gần khu vực loa.
Các loa tĩnh điện chủ yếu dùng nghe stereo,chúng thường ít xuất hiện trong các hệ thống rạp hát tại gia. Âm thanh rất trong trẻo và chi tiết ở dải trung và treble. Tuy nhiên, chúng lại hơi hạn chế về vị trí đặt loa. Ngoài ra, để có được tiếng bass thật chắc và khoẻ, hầu hết loa tĩnh điện được phối hợp với loa siêu trầm hoặc lắp 1 chiếc loa trầm ở bên trong. Hãng làm loa tĩnh điện có tiếng là Martin Logan ở Mỹ.
Loa mành nam châm
Tương tự loa tĩnh điện, loa mành nam châm không hoạt điện động theo kiểu “điện động” như loa điện động nhưng nó có điểm khác biệt là không cần phải cắm vào ổ điện trên tường.
Nếu loa tĩnh điện vận hành được nhờ có 1 chiếc mành nhẹ treo ở giữa 2 tấm kim loại tích điện thì loa mành nam châm thay thế tấm màng mỏng, và rộng này bằng 1 dải ruy băng kim loại mỏng, treo giữa 2 nam châm. Loa này hoặc điện động khi có dòng điện chạy qua ruy băng kim loại này. Khi đó, ruy băng sẽ bị các nam châm đẩy và hút. Sự chuyển điện động này sinh ra song âm trong không khí bao quanh ruy băng.
Tấm ruy băng này mỏng nhẹ giúp loa mành nam châm. Phản ứng nhanh nhạy với tín hiệu tiếng và trình diễn âm thanh 1 cách trong trẻo nên tái hiện các tần số cao rất hợp. Loa mành nam châm có dải ruy băng dài khoảng vài inch, thường đóng vai trò làm loa treble và nó kết hợp rất tuyệt với loa trung/trầm điện động. Giống như loa tĩnh điện, loa mành nam châm thường đi liền với các loa trầm điện động. Thường giữ vị trí dành cho âm nhạc 2 kênh, tất nhiên loại loa này cũng có mặt trong các hệ thống rạp hát gia đình đa kênh. Có thể kể đến Apogee, Magnepan…là những làm loa mành nam châm có tiếng.

NIVS MDV-9815B
Loa plasma
Đây là loại loa hết sức đặc biệt. Nó không cần thùng, không cần màng loa mà vẫn phát ra âm thanh rất trong trẻo, chính xác, độ méo cực thấp. Loa này thường đóng vai trò của loa treble. Nguyên lý loa plasma rất đơn giản, nó có bộ phóng điện gắn với 1 biến thế cao áp ở 1 đầu ra của 1 ampli công suất. Ampli này điều khiển biến thế có điện áp ra lên đến hàng ngàn vôn theo tín hiệu âm thanh. Kíck cỡ của ngọn lửa phát ra từ que phóng điện đó cũng thay đổi theo, do vậy, áp suất không khí xung quanh ngọn lửa cũng biến đổi. Bạn sẽ nghe được những âm thanh phát ra trực tiếp trong không khí mà không hề thấy tấm màng loa này rung động. Tiếng tuy hơi nhỏ nhưng bù lại rất trong trẻo, âm thanh lan toả đều trong phòng nhạc.
Tuy nhiên, con đường đến với thiên đường hi-fi của loại loa này còn gập ghềnh. Trong quá trình hoạt động, loa plasma sinh ra khí ôzôn rất độc hại, có thể gây ung thư. Điện áp của loa lại quá cao, nguy hiểm cho tính mạng con người. Ngoài ra, bức xạ tần số radio của nó gần như không thể kiểm soát được, có thể phá hỏng quá trình thu nhận tín hiệu truyền hình của tivi, can thiệp vào hoạt điện động của các thiết bị khác, ví dụ: đầu CD. Hiện nay, một số nhà sản xuất loa này cũng đang cố gắng khắc phục những nhược điểm của nó…
Theo nghe nhìn việt nam
Filed under: All - Tất Cả, Âm Nhạc & Video Clip, Công Nghệ & Khoa Học, Tự làm, Thủ Thuật & Mẹo Vặt | Leave a Comment »















